NhaVanHoc.comNhà Văn Học
Văn học trung đại

Vì sao văn học trung đại khó đọc với người hôm nay?

Văn học trung đại khó đọc vì nó viết bằng chữ Hán và chữ Nôm rồi đến ta qua bản phiên âm, dùng nhiều điển cố, tả theo lối ước lệ và quan niệm văn chương để chở đạo lý. Hiểu bốn rào cản ấy, việc đọc dễ hơn nhiều.

Học sinh xem những bản sách cổ trưng bày trong tủ kính bảo tàng

Văn học trung đại khó đọc với người hôm nay vì bốn lẽ: nó được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm rồi đến với ta qua bản phiên âm, dịch nghĩa; nó dùng rất nhiều điển cố; nó tả người tả cảnh theo lối ước lệ; và nó coi văn chương trước hết là để chở đạo lý. Hiểu bốn rào cản ấy, việc đọc dễ hơn hẳn.

Chào bạn, đây là Nhà Văn Học. Rất nhiều học sinh nói thẳng rằng ghét văn trung đại vì không hiểu gì cả. Mình nghĩ lỗi không nằm ở các em, mà ở chỗ chưa ai chỉ cho các em thấy vì sao nó khó. Tập này dành cho việc đó.

Rào cản thứ nhất: chữ viết

Suốt nhiều thế kỷ, người Việt viết văn chương bằng hai thứ chữ. Chữ Hán là chữ của nhà nước, khoa cử, sách vở, đọc theo âm Hán Việt. Chữ Nôm do người Việt dựa vào chữ Hán mà tạo ra để ghi tiếng nói của mình.

Với tác phẩm chữ Hán như nhiều bài thơ của Nguyễn Trãi hay Nguyễn Du, ta đọc qua ba lớp: bản phiên âm Hán Việt, bản dịch nghĩa, và bản dịch thơ. Mỗi lớp dịch là một lớp mất mát. Bản dịch thơ có thể rất hay nhưng không còn là chữ của tác giả.

Với tác phẩm chữ Nôm như Truyện Kiều, ta may hơn vì đó vốn là tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt mấy trăm năm trước có nhiều từ nay đã cổ, đã đổi nghĩa, nên vẫn cần chú thích.

Biết đang đọc lớp nào là điều đầu tiên. Khi phân tích thơ chữ Hán, hãy đọc kỹ bản dịch nghĩa, đừng chỉ dựa vào bản dịch thơ, vì nhiều chữ hay nhất của nguyên tác bị rơi ở đó.

Rào cản thứ hai: điển cố

Điển cố là những câu chuyện, nhân vật, câu văn trong sách xưa, được gọi tên bằng vài chữ. Với người đọc thời ấy, nhắc một điển cố như ta hôm nay nhắc một câu nói nổi tiếng: chỉ cần vài chữ là cả câu chuyện hiện lên.

Ví dụ chữ bể dâu trong câu mở đầu Truyện Kiều. Đằng sau là ý biển xanh hoá ruộng dâu, chỉ những đổi thay lớn của cuộc đời. Người xưa đọc là hiểu, người nay phải đọc chú thích.

Điển cố là cách nói nén. Nó làm câu thơ ngắn mà nhiều tầng, và tạo cảm giác người viết lẫn người đọc cùng thuộc một cộng đồng học vấn. Nhưng chính vì thế, khi cộng đồng ấy không còn, điển cố thành rào cản.

Cách vượt: đừng bỏ qua chú thích, nhưng cũng đừng dừng ở đó. Sau khi biết điển cố nghĩa gì, hãy hỏi vì sao tác giả chọn điển ấy ở chỗ này, nó thêm gì cho câu thơ.

Rào cản thứ ba: lối tả ước lệ

Đọc đoạn Nguyễn Du tả Thúy Vân, khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang, người hôm nay có thể thắc mắc: mặt tròn như trăng, lông mày như con ngài, vậy rốt cuộc nàng trông thế nào. Câu trả lời là không cần biết cụ thể.

Văn học trung đại tả người theo lối ước lệ: dùng những hình ảnh thiên nhiên đẹp đã thành quy ước để gợi vẻ đẹp, chứ không vẽ chân dung riêng. Mặt như trăng, mày như ngài, da như tuyết, tóc như mây. Mục đích là gợi một vẻ đẹp chuẩn mực, không phải một khuôn mặt cụ thể.

Cái tinh tế nằm ở chỗ nhà thơ giỏi vẫn khiến hình ảnh ước lệ nói được điều riêng. Nguyễn Du tả Thúy Vân thì thiên nhiên thua nhường, tả Thúy Kiều thì hoa ghen liễu hờn. Chỉ một sự khác biệt nhỏ mà báo trước hai số phận.

Khi đọc, đừng chờ chi tiết hiện thực. Hãy để ý những biến tấu nhỏ trong khuôn ước lệ, vì đó mới là chỗ tài năng lộ ra.

Rào cản thứ tư: văn để chở đạo

Người xưa có quan niệm văn dĩ tải đạo, văn để chở đạo, và thi dĩ ngôn chí, thơ để nói chí. Văn chương trước hết là để giáo hoá, để bày tỏ lý tưởng, đạo đức. Cảm xúc riêng tư thường được nói kín đáo, qua cảnh vật.

Người đọc hôm nay quen với văn chương nói thẳng cảm xúc cá nhân, nên dễ thấy văn trung đại khô, khuôn sáo, nhiều lời răn dạy. Lục Vân Tiên mở đầu bằng những câu về trung hiếu tiết hạnh là một ví dụ.

Nhưng đọc kỹ sẽ thấy cảm xúc không hề vắng. Nó ẩn sau cảnh, sau điển cố, sau những lời trang trọng. Nỗi cô đơn của người chinh phụ, nỗi uất của Hồ Xuân Hương, nỗi thẹn của Nguyễn Khuyến đều rất thật, chỉ là được nói theo phép lịch sự của thời ấy.

Hiểu quan niệm này, ta đọc văn trung đại với sự kiên nhẫn của người nghe một người lớn tuổi nói chuyện: họ ít khi nói thẳng, nhưng mỗi lời đều có ý.

Một lộ trình đọc dễ hơn

Hãy bắt đầu với thơ Nôm, vì đó là tiếng Việt: Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến, rồi Truyện Kiều. Sau đó mới tới thơ chữ Hán qua bản dịch.

Đọc to mọi thứ. Văn trung đại được viết để ngâm, để đọc thành tiếng. Âm thanh giúp ta cảm trước khi hiểu.

Làm một cuốn sổ nhỏ ghi những điển cố và từ cổ hay gặp. Sau vài tác phẩm, bạn sẽ thấy chúng lặp lại nhiều, và rào cản tự thấp xuống.

Cuối cùng, hãy nhớ rằng những người viết ra các tác phẩm ấy cũng từng trẻ, từng yêu, từng buồn như ta. Bạn sẽ bắt đầu từ tác phẩm nào trước?

Câu hỏi thường gặp

Chữ Nôm là gì?

Chữ Nôm là hệ chữ người Việt tạo ra dựa trên chữ Hán để ghi tiếng Việt, thường ghép các bộ phận chữ Hán để biểu thị âm và nghĩa. Nhiều kiệt tác như Truyện Kiều được viết bằng chữ Nôm.

Văn học trung đại Việt Nam kéo dài khoảng bao lâu?

Thường được tính từ khoảng thế kỷ mười đến hết thế kỷ mười chín, tức gần mười thế kỷ. Đây là giai đoạn văn học viết bằng chữ Hán và chữ Nôm.

Ước lệ là gì?

Ước lệ là lối diễn đạt bằng những hình ảnh đã thành quy ước chung, như tả người đẹp bằng trăng, hoa, tuyết. Mục đích là gợi chuẩn mực vẻ đẹp chứ không vẽ chân dung cụ thể.

Có nên đọc thơ chữ Hán qua bản dịch thơ không?

Nên, nhưng luôn đọc kèm bản phiên âm và dịch nghĩa. Bản dịch thơ giúp cảm nhạc điệu, còn bản dịch nghĩa giúp hiểu đúng ý nguyên tác.

Văn dĩ tải đạo nghĩa là gì?

Nghĩa là văn để chở đạo, một quan niệm của nhà Nho coi văn chương trước hết là phương tiện giáo hoá đạo đức. Quan niệm này ảnh hưởng sâu đến nội dung và giọng điệu văn học trung đại.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, ban biên tập sẽ liên hệ lại với bạn.