NhaVanHoc.comNhà Văn Học
Văn học trung đại

Ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến có gì đặc biệt?

Ba bài Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm của Nguyễn Khuyến đặc biệt vì đưa mùa thu làng quê Bắc Bộ, với ao, ngõ trúc, nhà cỏ, vào thể thơ Đường vốn quen với cảnh ước lệ Trung Hoa. Đằng sau cảnh tĩnh là tâm sự của một nhà nho thanh bạch đã cáo quan về quê.

🎙️
Ao làng mùa thu nước trong có chiếc thuyền nhỏ và hàng tre
🔊 Bản audio

Video đang xử lý, vui lòng quay lại sau.

Ba bài Thu điếu, Thu vịnh và Thu ẩm của Nguyễn Khuyến đặc biệt vì đưa mùa thu của làng quê Bắc Bộ, với cái ao nhỏ, ngõ trúc, mái nhà cỏ, vào thể thơ Đường vốn quen với cảnh ước lệ Trung Hoa. Và đằng sau cảnh thu rất tĩnh là tâm sự của một nhà nho thanh bạch đã cáo quan về quê.

Chào bạn, đây là Nhà Văn Học. Có những bài thơ mà người ta thuộc từ thuở học trò, rồi mãi về sau mới hiểu. Ba bài thơ thu là như vậy. Tập này mình đọc lại chúng như ba bức tranh treo cạnh nhau, mỗi bức một góc nhìn của cùng một mùa thu.

Người viết: Tam nguyên Yên Đổ

Nguyễn Khuyến quê ở làng Yên Đổ, nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ông đỗ đầu cả ba kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình, nên người đời gọi là Tam nguyên Yên Đổ. Đó là vinh dự rất hiếm có trong khoa cử xưa.

Ông ra làm quan nhưng không lâu. Trong bối cảnh đất nước rơi vào tay thực dân, ông cáo quan về quê, sống thanh bạch, làm thơ. Phần lớn thơ hay của ông được viết trong những năm ở quê này.

Biết điều đó, ta hiểu vì sao cảnh thu trong thơ ông lại vắng, lại tĩnh, lại buồn một cách kín đáo. Đó là mùa thu nhìn qua đôi mắt của một người đã chọn đứng ngoài thời cuộc, nhưng lòng vẫn không yên.

Xuân Diệu từng gọi Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Ba bài thơ thu là minh chứng rõ nhất cho tên gọi ấy.

Thu điếu: mùa thu và một vần eo

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo. Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Sóng biếc theo làn hơi gợn tí. Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo. Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt. Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Tựa gối buông cần lâu chẳng được. Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Điều đầu tiên người đọc nhận ra là vần eo: veo, teo, vèo, teo, bèo. Đây là một vần hẹp, ít chữ, người làm thơ gọi là tử vận, rất khó gieo. Nguyễn Khuyến không chỉ gieo được mà còn dùng nó để tạo cảm giác mọi thứ thu nhỏ lại, co lại, lặng đi.

Không gian bài thơ rất hẹp: một cái ao, một chiếc thuyền bé, sóng gợn tí, lá đưa vèo. Rồi mở lên tầng mây, trời xanh ngắt, rồi lại thu về ngõ trúc vắng teo. Mọi chuyển động đều rất khẽ.

Câu cuối có một âm thanh: cá đâu đớp động dưới chân bèo. Tiếng động nhỏ ấy làm sự tĩnh lặng càng sâu. Và người câu cá dường như không câu cá, mà đang ngồi với những ý nghĩ không nói ra.

Thu vịnh và Thu ẩm: hai góc nhìn khác

Thu vịnh mở bằng trời thu xanh ngắt mấy tầng cao, cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. Nếu Thu điếu nhìn cảnh từ mặt ao lên, thì Thu vịnh nhìn từ trên cao xuống, rộng hơn, thoáng hơn. Bài thơ có cảnh nước biếc như khói phủ, song thưa để mặc bóng trăng vào, và cuối bài là nỗi thẹn của nhà thơ khi nghĩ tới ông Đào, tức Đào Tiềm, một ẩn sĩ Trung Hoa nổi tiếng.

Nỗi thẹn ấy là một chỗ đáng suy ngẫm. Nhiều người hiểu rằng Nguyễn Khuyến tự thấy mình chưa thanh cao bằng người xưa, vì đã từng ra làm quan, hoặc vì về ở ẩn mà lòng vẫn chưa thật dứt được thời thế.

Thu ẩm mở bằng năm gian nhà cỏ thấp le te, ngõ tối đêm sâu đóm lập loè. Đây là mùa thu về đêm, của người ngồi uống rượu. Cảnh nghèo, tối, nhưng vẫn có ánh đóm, ánh trăng. Bài thơ có giọng ngà ngà, vừa buồn vừa tự trào.

Ba bài, ba thời điểm, ba tư thế: ngồi câu cá, ngắm trời, uống rượu. Nhưng cùng một người, cùng một nỗi niềm.

Cảnh thu này Việt Nam ở đâu?

Trước Nguyễn Khuyến, mùa thu trong thơ trung đại thường là mùa thu ước lệ: lá ngô đồng rụng, tiếng chày đập áo, nhạn bay. Những hình ảnh ấy đẹp nhưng mượn từ thơ Trung Hoa.

Nguyễn Khuyến đưa vào thơ cái ao làng, chiếc thuyền câu bé, ngõ trúc quanh co, bèo, nhà cỏ năm gian. Đó là những thứ có thật ở làng quê đồng bằng Bắc Bộ, mà người đọc nhìn là nhận ra.

Cái mới ở đây không phải là phá luật thơ. Ông vẫn giữ nghiêm thể thất ngôn bát cú. Cái mới là đổ vào cái khuôn cũ một chất liệu hoàn toàn Việt.

Đây là bài học tinh tế về sáng tạo: đôi khi không cần phá khuôn, chỉ cần đổ vào khuôn một thứ mà trước đó chưa ai đổ.

Đọc ba bài cùng nhau

Ba bài thơ thường được dạy lẻ, nhất là Thu điếu. Nhưng đọc cả ba cùng lúc sẽ thấy một bức tranh đầy đủ hơn về mùa thu và về người làm thơ.

Bạn có thể kẻ ba cột: không gian, thời gian, tâm trạng. Thu điếu là ao nhỏ, ban ngày, tĩnh lặng chờ đợi. Thu vịnh là trời rộng, có cả trăng, có nỗi thẹn. Thu ẩm là nhà cỏ, đêm, men rượu và tự trào.

Đặt ba cột cạnh nhau, bạn sẽ thấy cùng một nỗi buồn được nói theo ba cách khác nhau, như ba lần người ta kể lại cùng một chuyện mà mỗi lần lại lộ thêm một chút.

Mùa thu năm nay, nếu có dịp về quê, bạn thử tìm một cái ao nhỏ, ngồi yên một lúc. Có khi bạn sẽ nghe được tiếng cá đớp động dưới chân bèo.

Câu hỏi thường gặp

Thu điếu nghĩa là gì?

Thu là mùa thu, điếu là câu cá, nên Thu điếu là câu cá mùa thu. Tương tự, Thu vịnh là vịnh mùa thu, Thu ẩm là uống rượu mùa thu.

Tử vận là gì?

Tử vận là vần hẹp, có rất ít chữ để gieo, khiến người làm thơ khó xoay xở. Vần eo trong Thu điếu là một ví dụ, và việc gieo thành công được coi là một biểu hiện tài năng.

Vì sao Nguyễn Khuyến được gọi là Tam nguyên?

Vì ông đỗ đầu cả ba kỳ thi Hương, Hội, Đình. Quê ông ở làng Yên Đổ nên người đời gọi là Tam nguyên Yên Đổ.

Ông Đào trong Thu vịnh là ai?

Đó là Đào Tiềm, còn gọi Đào Uyên Minh, một nhà thơ Trung Hoa nổi tiếng vì từ quan về sống ẩn dật. Nhắc tới ông, Nguyễn Khuyến tự so mình với một hình mẫu thanh cao.

Ngoài thơ thu, Nguyễn Khuyến còn bài nào nổi tiếng?

Bạn đến chơi nhà là bài rất quen, nói về tình bạn chân thành giữa cảnh nghèo. Ông còn nhiều bài thơ trào phúng sắc sảo, chế giễu thói đời và quan lại đương thời.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, ban biên tập sẽ liên hệ lại với bạn.