NhaVanHoc.comNhà Văn Học
Văn học trung đại

Chinh phụ ngâm là gì, và ai đã diễn Nôm?

Chinh phụ ngâm là khúc ngâm về nỗi lòng người vợ có chồng ra trận, nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn. Bản diễn Nôm song thất lục bát quen thuộc thường được gán cho Đoàn Thị Điểm, nhưng nhiều nhà nghiên cứu cho là của Phan Huy Ích, và câu hỏi này đến nay vẫn chưa ngã ngũ.

Người phụ nữ đứng bên cửa sổ gỗ nhìn ra khoảng sân vắng lúc hoàng hôn

Chinh phụ ngâm là khúc ngâm kể nỗi lòng người vợ có chồng ra trận, nguyên tác viết bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn. Bản diễn Nôm theo thể song thất lục bát mà ta quen đọc thường được gán cho Đoàn Thị Điểm, nhưng nhiều nhà nghiên cứu cho là của Phan Huy Ích, và đến nay câu hỏi này vẫn chưa ngã ngũ.

Chào bạn, đây là Nhà Văn Học. Đây là một tác phẩm hiếm hoi mà chính chuyện ai là dịch giả cũng là một câu chuyện văn học sử thú vị. Tập này mình kể cả hai: nỗi buồn trong khúc ngâm, và nỗi băn khoăn của người làm nghiên cứu.

Một người vợ, một cuộc chiến, một nỗi chờ

Khúc ngâm mở đầu bằng những câu rất quen: thuở trời đất nổi cơn gió bụi, khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên. Xanh kia thăm thẳm tầng trên, vì ai gây dựng cho nên nỗi này.

Người chồng lên đường ra trận, người vợ ở lại. Phần lớn tác phẩm là lời độc thoại của nàng qua tháng năm chờ đợi: nhớ lúc tiễn đưa, tưởng tượng cảnh chiến trường lạnh lẽo, đếm từng mùa trôi qua, sợ tuổi xuân tàn phai.

Không có nhiều sự kiện. Cái làm nên tác phẩm là những biến thái rất tinh tế của nỗi buồn: lúc ngóng trông, lúc lo sợ, lúc hờn tủi, lúc mơ màng. Đây là văn học của tâm trạng, hiếm thấy trong văn học trung đại vốn thiên về đạo lý.

Và đằng sau nỗi buồn riêng là một thái độ chung: chiến tranh phong kiến lấy đi hạnh phúc của những con người bình thường. Nhiều người đọc thấy ở đây tiếng nói phản đối chiến tranh rất sớm.

Tình cảnh lẻ loi: đọc chậm một đoạn

Đoạn thường được trích trong nhà trường là cảnh người chinh phụ một mình trong đêm. Nàng dạo hiên vắng, buông rèm, rồi đối diện ngọn đèn. Có câu đèn có biết dường bằng chẳng biết, lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

Ngọn đèn là người bạn duy nhất, nhưng là người bạn không biết nói, không hiểu lòng. Câu thơ vừa hỏi đèn vừa tự trả lời, cho thấy nỗi cô đơn không có lối thoát.

Những hành động lặp đi lặp lại, gieo từng bước, rủ thác đòi phen, cho thấy nàng không biết làm gì với thời gian. Thời gian trong khúc ngâm không trôi mà đứng lại, nặng nề.

Đọc đoạn này, hãy để ý cách cảnh vật và đồ vật được dùng để nói tâm trạng: tiếng gà, bóng cây, ngọn đèn. Đó là bút pháp tả cảnh ngụ tình mà ta đã nói ở tập trước, được dùng ở mức điêu luyện.

Song thất lục bát: một thể thơ sinh ra để ngâm

Bản diễn Nôm dùng thể song thất lục bát: hai câu bảy chữ, tiếp theo một cặp sáu tám, rồi lặp lại. Song thất nghĩa là hai câu bảy.

Hai câu bảy chữ thường ngắt nhịp ba bốn, khác với nhịp bốn ba của thơ Đường, tạo âm hưởng trầm, như tiếng thở dài. Cặp lục bát sau đó lại mềm mại, đều đặn. Sự xen kẽ ấy rất hợp để diễn tả nỗi buồn cứ dâng lên rồi lắng xuống.

Cách gieo vần cũng phức tạp hơn lục bát, có cả vần trắc lẫn vần bằng, móc nối các câu với nhau. Đây là một thể thơ thuần Việt, và Chinh phụ ngâm cùng Cung oán ngâm khúc là hai tác phẩm tiêu biểu nhất của nó.

Nếu có dịp nghe ngâm Chinh phụ ngâm, bạn sẽ thấy ngay vì sao thể thơ này được chọn. Giọng ngâm và nhịp thơ như được may đo cho nhau.

Đoàn Thị Điểm hay Phan Huy Ích?

Nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn thì không có tranh cãi. Bản ấy viết theo lối câu dài ngắn xen nhau. Câu hỏi nằm ở bản diễn Nôm.

Theo truyền thống lâu đời, bản Nôm hay nhất được gán cho nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Nhưng từ thế kỷ hai mươi, một số nhà nghiên cứu dựa vào các tư liệu gia phả, văn bản để cho rằng người diễn Nôm bản này là Phan Huy Ích. Các bên đều có lý lẽ, và chưa có bằng chứng quyết định.

Nhiều sách giáo khoa và sách tham khảo ngày nay vì vậy ghi theo kiểu tương truyền là Đoàn Thị Điểm, có ý kiến cho là Phan Huy Ích. Đó là cách ghi trung thực với tình trạng hiểu biết hiện nay.

Đây là một bài học hay cho người đọc: văn học sử không phải lúc nào cũng có đáp án chắc chắn. Biết chỗ nào còn tranh luận cũng là một phần của hiểu biết.

Đọc Chinh phụ ngâm hôm nay

Người đọc hôm nay có thể thấy khúc ngâm dài và buồn đều. Hãy đọc theo từng đoạn ngắn, mỗi đoạn một tâm trạng, đừng cố đọc liền một hơi.

Nên đọc kèm chú thích, vì tác phẩm dùng nhiều điển cố về chiến trận và về tình yêu trong văn chương Trung Hoa. Hiểu một điển cố, cả câu thơ sẽ sáng lên.

Và hãy nghĩ tới những người vợ, người mẹ chờ người thân đi xa trong bất cứ thời nào. Nỗi chờ đợi ấy không thuộc riêng thời phong kiến.

Trong khúc ngâm có câu nào bạn từng nghe bà hay mẹ ngâm nga mà không biết nó từ đâu ra không?

Câu hỏi thường gặp

Đặng Trần Côn là ai?

Ông là một danh sĩ thế kỷ mười tám, tác giả nguyên tác chữ Hán Chinh phụ ngâm. Tiểu sử ông được biết không nhiều, nhưng tác phẩm này đã đủ đưa ông vào văn học sử.

Chinh phụ nghĩa là gì?

Chinh phụ là người vợ có chồng đi chinh chiến. Ngâm là thể loại để ngâm đọc, bày tỏ nỗi lòng theo lối trữ tình dài.

Vì sao Chinh phụ ngâm được coi là phản chiến?

Vì tác phẩm cho thấy chiến tranh gây ra chia ly, cô đơn và mất mát cho con người, đặc biệt là người phụ nữ ở lại. Không có lời ca ngợi chiến công, chỉ có nỗi đau của người chờ đợi.

Song thất lục bát khác lục bát thế nào?

Song thất lục bát có thêm hai câu bảy chữ trước mỗi cặp sáu tám, nhịp trầm hơn và vần phức tạp hơn. Lục bát chỉ gồm các cặp sáu tám nối tiếp nhau.

Chinh phụ ngâm có liên quan gì đến Cung oán ngâm khúc?

Hai tác phẩm cùng thể song thất lục bát, cùng là khúc ngâm về nỗi lòng người phụ nữ. Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều nói về người cung nữ bị vua ruồng bỏ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, ban biên tập sẽ liên hệ lại với bạn.