Thơ lục bát là thể thơ cứ một câu sáu chữ lại nối một câu tám chữ, vần gieo ở chữ thứ sáu và chữ thứ tám, rồi móc sang câu sau như những mắt xích. Chính cách gieo vần nối nhau ấy làm lục bát dễ thuộc, dễ ru, và vì thế nó nằm sẵn trong tai người Việt từ lúc còn nằm võng.
Chào bạn, đây là Nhà Văn Học. Hôm nay mình nói về thể thơ thân thuộc nhất của chúng ta. Phần lớn ca dao là lục bát, Truyện Kiều là lục bát, những câu ru của bà của mẹ cũng là lục bát. Biết luật của nó không làm thơ bớt hay, ngược lại sẽ giúp bạn nghe ra cái khéo mà trước giờ chỉ cảm thấy mơ hồ.
Vần lưng: những mắt xích nối các câu
Lấy bốn câu mở đầu Truyện Kiều để xem. Trăm năm trong cõi người ta. Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. Trải qua một cuộc bể dâu. Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Chữ thứ sáu của câu sáu là ta. Nó vần với chữ thứ sáu của câu tám là là. Chữ thứ tám của câu tám là nhau, lại vần với chữ thứ sáu của câu sáu tiếp theo là dâu. Rồi dâu lại vần với đau ở chữ thứ sáu câu tám sau đó. Vần cứ thế truyền đi, câu này níu câu kia.
Kiểu vần nằm ở giữa câu như vậy gọi là vần lưng, còn vần ở cuối câu là vần chân. Lục bát dùng cả hai, xen kẽ đều đặn. Nhờ đó, khi bạn nhớ một câu, bạn gần như được gợi sẵn âm của câu kế tiếp.
Đó là bí mật vì sao một người không biết chữ vẫn thuộc hàng trăm câu Kiều. Vần là sợi dây giúp trí nhớ đi từ câu này sang câu khác.
Luật bằng trắc ở chữ thứ hai, bốn, sáu, tám
Tiếng Việt có sáu thanh, chia làm hai nhóm. Thanh bằng gồm thanh ngang và thanh huyền. Thanh trắc gồm sắc, hỏi, ngã, nặng. Lục bát không bắt mọi chữ theo luật, chỉ những chữ ở vị trí chẵn.
Ở câu sáu, chữ thứ hai bằng, chữ thứ tư trắc, chữ thứ sáu bằng. Ở câu tám cũng thế với ba vị trí đầu, và chữ thứ tám bằng. Quay lại câu Kiều: năm là bằng, cõi là trắc, ta là bằng. Câu tám: tài bằng, mệnh trắc, là bằng, nhau bằng.
Còn một điểm tinh tế: ở câu tám, chữ thứ sáu và chữ thứ tám tuy đều là thanh bằng nhưng thường khác nhau, một bên thanh huyền một bên thanh ngang. Là và nhau là ví dụ. Sự xen kẽ ấy tạo cảm giác lên xuống nhẹ nhàng, không bị đều đều.
Còn các chữ lẻ, thứ nhất, ba, năm, thì tương đối tự do. Người xưa có câu nhất tam ngũ bất luận để nói ý đó, dù câu này vốn dùng cho thơ Đường.
Nhịp chẵn và những lúc phá nhịp
Nhịp phổ biến của lục bát là nhịp chẵn, ngắt hai hai hai. Trăm năm, trong cõi, người ta. Nhịp ấy đều như bước chân, như nhịp võng đưa, rất hợp với lời ru và lời kể dài.
Nhưng thơ hay không bao giờ chỉ đều. Khi cần nhấn mạnh, nhà thơ đổi sang nhịp ba ba hay nhịp lẻ. Một câu đột ngột ngắt khác đi sẽ làm người nghe giật mình chú ý. Nguyễn Du dùng cách này rất khéo ở những chỗ cảm xúc dâng cao.
Khi đọc lục bát thành tiếng, bạn thử để ý chỗ nào nhịp lệch khỏi hai hai hai. Gần như chắc chắn đó là chỗ có điều gì quan trọng.
Nhịp cũng là lý do lục bát có thể vừa trang trọng vừa dân dã. Cùng một khuôn, người hát ru dùng nó để dỗ con, người kể chuyện dùng nó để kể cả một đời người.
Lục bát biến thể trong ca dao
Không phải câu lục bát nào cũng đúng luật chặt. Ca dao có rất nhiều câu kéo dài hơn sáu tám chữ, hoặc gieo vần lệch đi. Người ta gọi đó là lục bát biến thể.
Ví dụ ca dao có những câu mà câu tám dài ra thành chín, mười chữ để chứa đủ ý, hoặc vần gieo vào chữ thứ tư thay vì chữ thứ sáu. Đọc lên vẫn nghe ra hồn lục bát, chỉ là thoải mái hơn.
Lý do là ca dao sinh ra trong lời hát, lời nói hằng ngày, chứ không phải trên bàn viết. Người hát co giãn chữ theo hơi và theo ý. Luật là cái được rút ra sau, không phải cái có trước.
Hiểu điều đó, bạn sẽ không vội cho rằng câu ca dao nào đó sai luật. Nó chỉ đang sống theo cách của lời ăn tiếng nói.
Đọc lục bát cho hay: vài gợi ý
Thứ nhất, đừng đọc lục bát quá nhanh. Nhịp chẵn đòi một độ ngân nhẹ ở cuối mỗi cặp chữ. Đọc vội sẽ nghe như đọc văn xuôi bị ngắt dòng.
Thứ hai, để ý những từ láy và điệp âm. Lục bát rất ưa những chữ như lơ thơ, thăm thẳm, rầu rầu. Chúng làm câu thơ vang lên như có tiếng vọng.
Thứ ba, thử ngâm hoặc ru. Người miền Bắc, miền Trung, miền Nam có những làn điệu ru, ngâm khác nhau cho cùng một câu lục bát. Nghe vài cách ngâm sẽ cho bạn thấy thể thơ này mềm dẻo đến mức nào.
Lần tới nghe ai đó ru con, bạn thử đếm chữ trong lời ru xem. Rất có thể bạn đang nghe một câu lục bát đã đi qua cả trăm năm mà không ai còn nhớ người đầu tiên hát nó.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao gọi là lục bát?
Lục nghĩa là sáu, bát nghĩa là tám, theo số chữ trong hai câu của mỗi cặp. Cái tên chỉ đơn giản mô tả hình thức của thể thơ.
Lục bát có phải thể thơ riêng của Việt Nam không?
Lục bát được xem là thể thơ thuần Việt, hình thành từ ca dao dân ca của người Việt. Các thể thơ vay mượn từ Trung Hoa như thơ Đường không có kiểu gieo vần lưng sáu tám này.
Song thất lục bát khác lục bát thế nào?
Song thất lục bát xen hai câu bảy chữ trước một cặp sáu tám, tạo nhịp trầm buồn, hợp với ngâm khúc. Chinh phụ ngâm bản diễn Nôm là tác phẩm tiêu biểu của thể này.
Truyện Kiều có bao nhiêu câu lục bát?
Truyện Kiều có hơn ba nghìn hai trăm câu, toàn bộ viết bằng thể lục bát. Các bản in khác nhau đôi khi chênh nhau vài câu do khác biệt văn bản.
Học sinh nhận biết thơ lục bát nhanh thế nào?
Đếm chữ hai câu đầu, thấy sáu rồi tám, rồi kiểm xem chữ thứ sáu câu trên có vần với chữ thứ sáu câu dưới không. Nếu cả hai đều đúng thì gần như chắc chắn là lục bát.