NhaVanHoc.comNhà Văn Học
Văn học dân gian

Truyện cười dân gian Việt Nam cười vào đâu?

Truyện cười dân gian cười vào những thói xấu ai cũng gặp: khoe khoang, sĩ diện, dốt mà làm như giỏi, keo kiệt, và cười cả những kẻ có quyền làm điều sai. Tiếng cười bật ra từ chỗ con người tự lật tẩy mình.

Nhóm người lớn tuổi cười vui dưới gốc đa đầu làng buổi chiều

Truyện cười dân gian Việt Nam cười vào những thói xấu mà ai cũng từng gặp: khoe khoang, sĩ diện, dốt mà làm như giỏi, keo kiệt, nghe người khác răm rắp, và cười cả những kẻ có quyền mà làm sai. Tiếng cười bật ra đúng lúc nhân vật tự lật tẩy chính mình.

Chào bạn, đây là Nhà Văn Học. Người Việt có câu một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ. Nhưng tiếng cười trong truyện dân gian không chỉ để giải trí, nó còn là một cách để người bình thường nói thật về những điều chướng tai gai mắt quanh mình.

Lợn cưới áo mới: hai kẻ khoe gặp nhau

Truyện kể một anh có cái áo mới, đứng ngoài cửa chờ người khen. Một anh khác chạy qua tìm con lợn bị sổng, hỏi có thấy con lợn cưới của mình chạy qua không. Anh áo mới giơ vạt áo lên đáp rằng từ lúc mặc cái áo mới này chưa thấy con lợn nào chạy qua cả.

Cái hay nằm ở chỗ cả hai cùng khoe. Một người chèn chữ lợn cưới vào câu hỏi, dù tìm lợn thì cần gì nói lợn để cưới. Người kia chèn cái áo mới vào câu trả lời, dù chẳng ai hỏi áo. Hai câu nói đều thừa đúng một chi tiết, và chính chi tiết thừa ấy là chỗ khoe.

Truyện không cần lời bình nào. Người nghe tự thấy cái lố, và bật cười vì nhận ra trong đời mình cũng đầy những câu nói thừa có chủ ý như vậy.

Đây là cơ chế tự lật tẩy: nhân vật muốn che giấu hay muốn phô bày, nhưng lời nói và hành động của chính họ làm lộ ra điều ngược lại.

Tam đại con gà: cái dốt hay giấu

Một anh học trò dốt đi dạy học. Gặp chữ kê, nghĩa là con gà, anh không biết, đành bảo học trò đọc là dủ dỉ là con dù dì. Sợ sai, anh khấn thổ công, xin được ba đài âm dương, tưởng là thần đã chấp thuận nên càng dạy to.

Khi bố học trò đến hỏi, anh bèn giải thích rằng dủ dỉ là chị con công, con công là ông con gà, tức là đi một vòng ba đời để nói rằng cuối cùng cũng là con gà. Tiếng cười nổ ra vì cái mưu che dốt càng tinh vi càng lộ dốt.

Đằng sau tiếng cười là một lời phê phán thói giấu dốt và cả thói coi thường việc học. Người dạy chữ mà không biết chữ là chuyện đáng cười, và cũng đáng lo.

Câu chuyện vẫn rất hợp thời. Ai đã từng gặp người cố trả lời một câu mình không biết, thay vì nói thẳng mình chưa biết, sẽ thấy dủ dỉ là con dù dì vẫn đang tồn tại.

Treo biển: nghe ai cũng sửa

Một nhà hàng cá treo tấm biển ghi ở đây có bán cá tươi. Người thứ nhất góp ý bỏ chữ tươi vì cá nhà mình chẳng lẽ ươn. Người thứ hai bảo bỏ chữ ở đây, người thứ ba bảo bỏ chữ có bán, người thứ tư bảo bỏ nốt chữ cá vì đi ngang đã ngửi thấy mùi. Cuối cùng nhà hàng cất luôn tấm biển.

Đây là kiểu truyện cười nhẹ nhàng, không ác ý, cười vào sự thiếu chính kiến. Mỗi lời góp ý nghe đều có lý, nhưng gộp lại thì xoá sạch mục đích ban đầu.

Truyện cũng gợi một bài học tinh tế về đọc và viết: mỗi chữ trên tấm biển có chức năng của nó. Chữ tươi để nói chất lượng, chữ ở đây để chỉ nơi chốn. Bỏ đi mà không hiểu vì sao nó có mặt là phá hỏng thông điệp.

Người làm việc nhóm hôm nay chắc đều đã từng gặp một tấm biển như thế.

Trạng Quỳnh và tiếng cười chống kẻ có quyền

Một mảng khác của truyện cười dân gian là những chuỗi truyện xoay quanh một nhân vật thông minh, láu lỉnh chuyên trêu kẻ có quyền. Nổi tiếng nhất là truyện Trạng Quỳnh.

Nhân vật Quỳnh thường được gắn với một người có thật thời Lê, nhưng phần lớn câu chuyện là sáng tác dân gian, được thêm thắt qua nhiều đời. Nên đọc truyện Trạng Quỳnh như đọc truyện dân gian, đừng coi đó là tiểu sử.

Trong các truyện ấy, Quỳnh dùng trí khôn để làm bẽ mặt vua chúa, quan lại, sứ giả nước ngoài. Người nghe xưa hả hê vì một người bình dân dám làm điều mà họ không dám.

Cũng nên biết rằng không phải truyện Trạng Quỳnh nào cũng thanh. Có những truyện thô tục, có những trò đùa ác. Đọc với con nhỏ thì nên chọn lọc.

Vì sao truyện cười dân gian vẫn hợp thời?

Vì các thói xấu mà nó cười không đổi theo thời gian. Khoe khoang chuyển từ áo mới sang những thứ khác, giấu dốt chuyển từ lớp học chữ Nho sang những cuộc họp, những bài đăng. Bối cảnh đổi, con người vẫn vậy.

Truyện cười dân gian cũng dạy một cách phê phán khéo léo: không chửi, không giảng, chỉ kể lại một tình huống để người nghe tự thấy cái sai. Kiểu phê phán ấy thường hiệu quả hơn lời lên án gay gắt.

Khi kể cho trẻ con, truyện cười là cửa vào văn học rất tốt. Trẻ thích cười, và khi đã cười thì sẽ muốn hiểu vì sao mình cười.

Lần tới bạn bật cười vì ai đó khoe khéo trong một câu nói, thử nghĩ xem anh chàng áo mới của ông bà mình có đang mỉm cười ở đâu đó không.

Câu hỏi thường gặp

Truyện cười dân gian chia thành mấy loại?

Thường chia thành truyện khôi hài để mua vui và truyện trào phúng để phê phán. Ngoài ra có những chuỗi truyện xoay quanh một nhân vật như Trạng Quỳnh, Ba Giai Tú Xuất.

Truyện cười khác truyện ngụ ngôn thế nào?

Truyện ngụ ngôn mượn chuyện loài vật hay đồ vật để rút ra bài học, giọng thường nghiêm. Truyện cười lấy tiếng cười làm mục đích chính, bài học nếu có thì nằm kín sau tiếng cười.

Nghệ thuật gây cười trong truyện dân gian là gì?

Thường là tạo tình huống mâu thuẫn, để nhân vật tự lật tẩy mình qua lời nói và hành động, và kết thúc bằng một câu bất ngờ. Truyện ngắn gọn, ít nhân vật, dồn tiếng cười vào cuối.

Trạng Quỳnh có phải người thật không?

Nhân vật thường được gắn với một người có thật thời Lê, nhưng các câu chuyện chủ yếu do dân gian sáng tác và gán cho ông. Không nên coi truyện Trạng Quỳnh là tư liệu lịch sử.

Có nên kể truyện cười dân gian cho trẻ nhỏ không?

Rất nên, với những truyện trong sáng như Treo biển, Lợn cưới áo mới. Sau khi cười, có thể hỏi con vì sao buồn cười, đó là bước đầu tập đọc hiểu.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, ban biên tập sẽ liên hệ lại với bạn.