NhaVanHoc.comNhà Văn Học
Văn học hiện đại Việt Nam

Vợ nhặt của Kim Lân: hy vọng mọc lên giữa nạn đói

Vợ nhặt kể chuyện anh Tràng nghèo khổ nhặt được vợ giữa nạn đói năm Ất Dậu, và cả nhà nhen lên hy vọng ngay bên bờ cái chết. Truyện hay ở tình huống trớ trêu, ở bà cụ Tứ và ở niềm tin rằng con người vẫn muốn sống, muốn có gia đình trong hoàn cảnh tận cùng.

Mái nhà tranh nhỏ ven làng Bắc Bộ trong buổi sáng sớm có khói bếp

Vợ nhặt của Kim Lân kể chuyện anh Tràng nghèo khổ nhặt được vợ giữa nạn đói năm Ất Dậu, và cả một gia đình nhen lên hy vọng ngay bên bờ cái chết. Truyện hay ở tình huống trớ trêu, ở nhân vật bà cụ Tứ, và ở niềm tin rằng con người vẫn muốn sống, vẫn muốn có một mái ấm, kể cả khi mọi thứ quanh mình đang chết dần.

Chào bạn, đây là Nhà Văn Học. Kim Lân là nhà văn của làng quê Bắc Bộ, viết không nhiều nhưng mỗi truyện đều chắc. Tập này mình đọc chậm truyện ngắn nổi tiếng nhất của ông, chú ý tới những chi tiết nhỏ mà lần đầu đọc dễ lướt qua.

Một tình huống vừa vui vừa thảm

Tràng là dân ngụ cư, tức người từ nơi khác đến, bị coi thường trong làng. Anh xấu, nghèo, có phần dở hơi, làm nghề kéo xe thóc thuê. Ở thời bình, chẳng ai muốn lấy anh.

Vậy mà giữa nạn đói, anh có vợ. Chỉ qua một câu hò đùa khi kéo xe, muốn ăn cơm trắng mấy giò thì lại đây mà đẩy xe bò với anh, và một lần mời ăn bốn bát bánh đúc, người đàn bà theo anh về.

Tình huống này vừa đáng mừng vừa đáng sợ. Mừng vì Tràng có vợ, điều tưởng không thể. Sợ vì người ta có thể nhặt được vợ dễ như nhặt một vật bỏ rơi bên đường, và giá trị con người rẻ đến mức chỉ bằng mấy bát bánh đúc.

Cái nhan đề Vợ nhặt gói trọn tình huống ấy. Chữ vợ thiêng liêng, chữ nhặt rẻ rúng, đặt cạnh nhau thành một nghịch lý đau đớn.

Người vợ nhặt: từ chao chát đến hiền hậu

Người đàn bà không có tên trong truyện, chỉ được gọi là thị. Lần đầu gặp, thị cong cớn, chao chát, chửi đổng, ăn uống hùng hục không còn giữ ý. Cái đói đã lấy đi của thị cả sự e thẹn.

Nhưng khi về tới nhà Tràng, thị thay đổi. Thị ngồi mớm ở mép giường, khép nép. Sáng hôm sau, thị dậy sớm cùng mẹ chồng quét dọn nhà cửa, thành một người vợ hiền hậu, đúng mực.

Sự thay đổi ấy cho thấy cái chao chát ban đầu không phải bản chất, mà là lớp vỏ cái đói đắp lên. Có một mái nhà, có người thương, con người tử tế trong thị trở về.

Kim Lân không giải thích, chỉ đặt hai hình ảnh trước và sau cạnh nhau. Người đọc tự hiểu rằng hoàn cảnh có thể làm méo mó con người, và tình thương có thể nắn lại.

Bà cụ Tứ và nồi cháo cám

Nhân vật đẹp nhất có lẽ là bà cụ Tứ, mẹ Tràng. Khi thấy con dẫn một người đàn bà lạ về, bà ngạc nhiên, rồi hiểu, rồi cúi đầu nín lặng. Trong lòng bà vừa mừng, vừa lo, vừa tủi, vừa thương.

Bà không trách người đàn bà, cũng không trách con. Bà chỉ nghĩ thầm rằng người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Ý nghĩ đơn sơ mà chứa cả sự thấu hiểu.

Sáng hôm sau, bà là người nói nhiều nhất về tương lai: nuôi gà, làm ăn, rồi may ra ông trời cho khá. Một bà già gần đất xa trời lại là người nói chuyện ngày mai, để giữ hy vọng cho đôi vợ chồng trẻ.

Rồi bà bưng lên nồi cháo cám, gọi vui là chè khoán. Miếng cháo đắng chát nghẹn ở cổ mọi người. Đó là chi tiết đắt nhất của truyện: người mẹ biến thứ thức ăn của lợn thành món chè, để bữa cơm đầu tiên của con dâu không quá tủi.

Chi tiết cuối truyện và niềm hy vọng

Truyện kết thúc khi tiếng trống thúc thuế vang lên dồn dập. Người vợ nhặt kể chuyện ở những nơi khác người ta kéo nhau đi phá kho thóc của Nhật để chia cho người đói. Trong óc Tràng hiện lên hình ảnh đoàn người đói và lá cờ đỏ.

Kết thúc mở ra một con đường, dù chưa rõ ràng. Gia đình Tràng không thể sống mãi bằng cháo cám, họ cần một sự thay đổi lớn hơn. Hình ảnh cuối gợi rằng sự thay đổi ấy đang tới.

Có người đọc thấy cái kết hơi vội. Có người thấy nó hợp lý với logic của truyện: từ hy vọng nhỏ trong một gia đình, mở ra hy vọng của cả cộng đồng. Bạn có thể giữ cả hai cảm nhận.

Dù hiểu thế nào, điều đọng lại vẫn là căn nhà buổi sáng sau đêm tân hôn: sân được quét sạch, quần áo được phơi, một gia đình nghèo đang cố sống tử tế.

Kim Lân và cách viết về người nghèo

Kim Lân viết về nông thôn bằng sự am hiểu của người trong cuộc. Ông biết tiếng chửi đổng, câu hò lúc kéo xe, cách người già nói chuyện. Văn ông không hoa mỹ mà chắc, thật.

Ông cũng có tình thương kín đáo với những người bị coi thường. Tràng dở hơi, thị chao chát, nhưng ông không cười họ. Ông để người đọc thấy họ cũng có khát khao rất người.

Ngoài Vợ nhặt, truyện Làng của ông, với nhân vật ông Hai yêu làng đến cuống quýt, cũng rất nên đọc. Hai truyện cho thấy hai mặt của cùng một ngòi bút: thương người và hiểu người.

Đọc xong Vợ nhặt, bạn sẽ thấy một buổi sáng bình thường trong căn nhà của mình bỗng có vẻ quý giá hơn. Bạn có nhớ bữa cơm nào trong đời mà một người thân đã cố làm cho đỡ tủi không?

Câu hỏi thường gặp

Vợ nhặt ra đời trong hoàn cảnh nào?

Truyện lấy bối cảnh nạn đói năm Ất Dậu ở miền Bắc. Nhiều tài liệu cho biết Kim Lân viết lại truyện này từ một bản thảo tiểu thuyết dang dở trước đó về xóm ngụ cư.

Tình huống truyện Vợ nhặt là gì?

Là việc anh Tràng, một người nghèo, xấu, bị coi thường, bỗng nhặt được vợ giữa nạn đói. Tình huống vừa lạ vừa éo le, làm bật lên cả hiện thực khốc liệt lẫn khát vọng sống của con người.

Chi tiết nồi cháo cám có ý nghĩa gì?

Nó cho thấy cái đói cùng cực và tấm lòng người mẹ muốn che chở con dâu. Bà cụ Tứ gọi nồi cháo cám là chè khoán để bữa cơm đầu tiên của con dâu bớt tủi.

Vì sao người vợ nhặt không có tên?

Việc không đặt tên cho thấy giá trị con người trong nạn đói bị rẻ rúng, ai cũng có thể thành người vô danh. Thị đại diện cho cả những phận người bị cái đói xô đẩy.

Ngụ cư nghĩa là gì?

Ngụ cư là người từ nơi khác đến sống ở làng, không phải dân gốc. Ở nông thôn xưa, dân ngụ cư thường bị coi thường và chịu nhiều thiệt thòi.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, ban biên tập sẽ liên hệ lại với bạn.